Ðẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng
cảng biển
ÐINH LA THĂNG
Ủy viên T.Ư Ðảng,
Bộ trưởng Giao thông vận tải
Thế kỷ 21 được coi là "thế kỷ
của đại dương". Với lợi thế là một quốc gia ven biển, nằm trên tuyến vận
tải biển quốc tế sôi động nhất của khu vực và thế giới, nước ta có điều kiện
rất thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là cảng biển, dịch vụ vận
tải biển, làm động lực để phát triển kinh tế - xã hội quốc gia một cách bền
vững.
Hội nghị lần thứ tư BCH T.Ư khóa X đã ra Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020, với mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về
biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia
trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp CNH, HÐH. Trong đó, xác
định rõ: Ðến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển,
ven biển với kinh tế hàng hải đứng thứ hai trong các ngành kinh tế biển (sau
khai thác và chế biến dầu khí) và sau năm 2020, kinh tế hàng hải sẽ đứng đầu
trong các ngành kinh tế biển. Như vậy, phát triển kinh tế hàng hải đã được Ðảng
và Nhà nước xem là khâu đột phá trong phát triển kinh tế biển nói riêng và
trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung trong giai đoạn tới. Ðể
thực hiện thành công các Nghị quyết của Ðảng, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã
và đang chỉ đạo tập trung phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển theo đúng định
hướng quy hoạch, tập trung, không dàn trải; tổ chức quản lý hạ tầng cảng biển
đồng bộ, hiện đại; phát triển dịch vụ logistic, hạ tầng ngành hàng hải, góp
phần khẳng định và giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo quốc gia,...
Quá trình thực hiện quy hoạch hệ thống cảng biển quốc gia vừa qua đã đạt được
những thành tựu nhất định, nhưng cũng xuất hiện một số bất cập cần điều chỉnh,
cập nhật phù hợp tình hình mới. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát
triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm
2030. Trong đó, vào năm 2015, hệ thống cảng biển quốc gia cần đáp ứng lưu lượng
hàng hóa thông qua 500 - 600 triệu tấn/năm, khoảng một tỷ tấn/năm vào năm 2020
và 1,6 - 2,1 tỷ tấn/năm vào năm 2030. Bộ GTVT đã hoàn thành phê duyệt quy hoạch
chi tiết sáu nhóm cảng biển trong hệ thống cảng biển Việt Nam, gồm 39 cảng
biển; trong đó, có ba cảng biển loại 1A (cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong,
hai cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và cảng Cái Mép - Thị Vải), 11 cảng loại
1,...
Nếu cùng nhìn nhận nghiêm túc và có định lượng, trong những năm qua, ngân sách
Nhà nước tuy được đầu tư tập trung vào cơ sở hạ tầng cảng biển dùng chung
(luồng tàu, đê chắn sóng), chỉ xây dựng một số bến cảng mang tính chất thu hút
tại các khu vực trọng yếu của nền kinh tế, nhưng mức độ hấp dẫn để thực hiện xã
hội hóa chưa cao. Những hạng mục đầu tư trước năm 2010 mới cơ bản đáp ứng nhu
cầu thiết yếu, chưa xác định rõ ràng và thực hiện thành công khâu đột phá đưa
nước ta trở thành một trong những trung tâm hàng hải của khu vực. Nguồn vốn
ngân sách do Bộ GTVT quản lý trong thời gian tới sẽ chỉ tập trung vào các dự án
trọng điểm, có tính bản lề, hình thành các cảng nước sâu, có khả năng thực hiện
chức năng vận tải trên các tuyến biển xa, thực hiện vai trò trung chuyển quốc
tế. Dự án cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong hiện đang giao Tổng công ty Hàng
hải Việt Nam làm chủ đầu tư, trên quan điểm kêu gọi sự tham gia của các nhà đầu
tư nước ngoài có thực lực, kinh nghiệm để bảo đảm tính khả thi. Ngoài ra, sẽ
tiếp tục hoàn chỉnh một số dự án cải tạo, nâng cấp luồng tàu, hạ tầng hàng hải
để khai thác ổn định, hiệu quả, đồng bộ với kết cấu hạ tầng cảng biển tại các
khu vực có nhu cầu cấp thiết.
Ðể phát triển và khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng cảng biển, có tính liên hoàn,
đồng bộ và hiệu quả của tổng thể mạng lưới giao thông vận tải quốc gia, việc
phát triển kết cấu hạ tầng kết nối cảng biển là một trong các yếu tố then chốt.
Bên cạnh đầu tư xây dựng các cảng biển cho tàu trọng tải lớn, hiện đại mang tầm
quốc tế, theo chỉ đạo của Thủ tướng và Bộ GTVT, Cục Hàng hải Việt Nam đang
triển khai nghiên cứu mô hình quản lý cảng biển đồng bộ và thống nhất, ứng dụng
công nghệ hỗ trợ quản lý hiện đại nhằm phát triển các cảng mới tập trung, đủ
tiềm lực để trở thành cảng biển lớn tầm cỡ khu vực, đủ sức cạnh tranh với các
trung tâm trung chuyển hàng hóa trong khu vực. Ðể các cảng trung chuyển quốc
tế, cảng cửa ngõ quốc tế phát huy hiệu quả tối đa, không những đòi hỏi hậu
phương hàng hóa dồi dào, hạ tầng kết nối đồng bộ mà còn rất cần những giải
pháp, chính sách để thu hút thành công lượng hàng công-ten-nơ trung chuyển của
khu vực, thu hút các tập đoàn vận tải biển lớn cùng tham gia, đầu tư khai thác
phát triển chuỗi dịch vụ logistic để có thể thích hợp các trung tâm dịch vụ vận
tải Việt Nam vào chuỗi dịch vụ toàn cầu. Nước ta có lợi thế lớn để trở thành
đầu mối logistic trong khu vực nhưng cũng đang đứng trước những thách thức lớn
do hạ tầng cơ sở logistic nghèo nàn; khung chính sách chưa đầy đủ, chưa phù
hợp; đội tàu công-ten-nơ còn yếu,...
Với mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải trở thành ngành kinh tế đứng đầu trong
năm ngành kinh tế biển, Bộ GTVT xác định không chỉ giới hạn trong việc đầu tư
phát triển hạ tầng cảng biển, mà phải tiếp tục đầu tư hiện đại hóa đội tàu biển
Việt Nam, nhất là đội tàu công-ten-nơ, đồng thời xây dựng chiến lược cũng như
khung chính sách phù hợp, tạo điều kiện để cho dịch vụ logistic phát triển một
cách mạnh mẽ. Chiến lược biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 đã xác định rõ
việc phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo
và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Thời gian qua, cùng với việc phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển, ngành GTVT
đã và đang triển khai phát triển đồng bộ các hạ tầng hỗ trợ hoạt động dịch vụ
cảng biển, vận tải biển bảo đảm thực hiện đầy đủ các yêu cầu về cơ sở vật chất
theo quy định các Công ước quốc tế về biển và hàng hải mà nước ta là thành
viên. Ngoài ra, phối hợp các bộ, ngành liên quan đấu tranh, đàm phán thành công
với Tổ chức COSPAS-SARSAT và các quốc gia lân cận về vùng trách nhiệm MCC của
Việt Nam. Ðồng thời, đẩy mạnh quan hệ hợp tác các tổ chức hàng hải và các nước
nhằm tạo sự hỗ trợ về kỹ thuật, vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông hàng
hải và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành. Bộ sẽ tiếp tục hoàn
chỉnh các hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động kinh tế trên biển nhằm
xác định cụ thể và dân sự hóa các vùng biển quốc gia; tham gia hiệu quả hoạt
động của Tổ chức Hàng hải quốc tế, các tổ chức quốc tế liên quan khác mà Việt
Nam là thành viên; xây dựng và triển khai thực hiện chương trình cụ thể nhằm
đến năm 2015, Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng IMO (nhóm C). Góp phần
thiết thực nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế trong lĩnh vực hàng
hải, khẳng định chủ quyền trên các vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Với những mục tiêu, định hướng phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển nói riêng
và ngành hàng hải Việt Nam nói chung, trách nhiệm và khối lượng công việc của
Bộ GTVT, ngành hàng hải trong thời gian tới rất lớn. Ngoài nỗ lực và quyết tâm
của ngành, rất cần sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ðảng, Chính phủ và phối
hợp, hỗ trợ chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan, nhằm mục tiêu phát triển mạnh
mẽ kinh tế hàng hải, góp phần thiết thực đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về
biển, làm giàu từ biển theo đúng mục tiêu được đề ra trong Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020.